Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Lựa chọn loại hình công ty!

Theo luật doanh nghiệp 2005 đã được quốc hội thông qua ngày 29/11/2005:
Điều 141. Doanh nghiệp tư nhân
1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
3. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân





Điều 63. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần.Đi


ều 38. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó:
a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi;
b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;
c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của Luật doanh nghiệp.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
3. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần.


iều 77. Công ty cổ phần
1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này.
2. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
3. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.

Điều 130. Công ty hợp danh
1. Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;
b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
2. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
3. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

LỰA CHỌN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Đối với nhiều người đang có ý định thành lập công ty thì việc lựa chọn loại hình Công ty là TNHH 1 thành viên hay 2 thành viên trở lên, hoặc Công ty cổ phần, hoặc Công ty hợp danh... vẫn luôn là câu hỏi. Có thể cho rằng việc chọn loại hình Công ty giống như việc chọn một chiếc áo phù hợp với kích cỡ của mỗi người. Chúng tôi xin gởi đến quý bạn đọc một vài nhận định về mỗi loại hình Công ty với mong muốn đồng hành cùng các bạn trong việc lựa chọn hình thức kinh doanh có hiệu quả
LOẠI HÌNH ƯU ĐIỂM HẠN CHẾ
Doanh nghiệp Tư nhân : Một chủ đầu tư, thuận lợi trong việc quyết định các vấn đề của Doanh nghiệp Không có tư cách pháp nhân
Chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản của Chủ Doanh nghiệp
Công ty TNHH Nhiều thành viên cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh 
Có tư cách pháp nhân 
Chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản theo tỉ lệ vốn góp Khả năng huy động vốn từ công chúng bằng hình thức đầu tư trực tiếp 
Công ty Cổ phần Nhiều thành viên cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh 
Có tư cách pháp nhân 
Chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản theo tỉ lệ vốn góp 
Các cổ đông sáng lập có thể mất quyền kiểm soát Công ty Khả năng huy động vốn từ công chúng bằng hình thức đầu tư trực tiếp thuận lợi, công chúng có thể dễ dàng tham gia vào công ty bằng hình thức mua cổ phiếu của Công ty (tính chất mở của Công ty)
Công ty Hợp danh Nhiều thành viên cùng tham gia góp vốn, cùng kinh doanh 
Các thành viên hợp danh có thể hoạt động nhân danh công ty 
Công ty hoạt động dựa trên uy tín của các thành viên Các thành viên cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản liên quan đến các hoạt động của Công ty. 
Không có tư cách pháp nhân
    - Việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: (i) uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; (ii) khả năng huy động vốn; (iii) rủi ro đầu tư; (iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; (v) tổ chức quản lý doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt nam hiện có Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, luật Hợp tác xã, luật Các tổ chức tín dụng, luật Đầu tư nước ngoài. Theo đó, Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp.
Vì vậy việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là:
(i) uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng;
(ii) khả năng huy động vốn; (iii) rủi ro đầu tư;
(iv) tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp;
(v) tổ chức quản lý doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân 
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp.
Công ty hợp danh 
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: (i) Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn; (i) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; (i) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn.
Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.
Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau. Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.
Loại hình công ty hợp danh mới chỉ được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2000 nên trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên 
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt nam hiện nay. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như: (i) do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn; (ii) số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp; (iii) Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty. Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những hạn chế nhất định như: (i) do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng; (ii) công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh; (iii) việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu.
Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào công ty. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả.
Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc.
Nhìn chung, công ty trách nhiệm hữu hạn có đầy đủ các đặc thù của công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên. Điểm khác biệt duy nhất giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất và thành viên nàyphải là một tổ chức có tư cách pháp nhân.
Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty. Tuy nhiên, loại hình công ty này cũng có hạn chế là các cá nhân không được phép thành lập loại hình công ty này, chỉ có một số chủ thể có tư cách pháp nhân như các tổ chức chính trị xã hội, công ty cổ phần, công ty nhà nước… mới được thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Công ty cổ phần 
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: (i)Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; (ii)Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; (iii)Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết; (iv)Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát.
Lợi thế của công ty cổ phần là:
(i) chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao;
(ii) khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành nghề;
(ii) cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty;
(iv) khả năng huy động vốn của công ty cổ phầnrất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần;
(v) việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần.
Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định như:
(i) việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích;
(ii) Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán.
Công ty nhà nước 
Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà Nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước.
Công ty nhà nước được thành lập chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội; ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn; ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư.
Người có thẩm quyền ra quyết định thành lập mới công ty nhà nước là Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng đối với việc quyết định thành lập mới công ty nhà nước đặc biệt quan trọng, chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt, làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
Công ty nhà nước có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty mới được tiếp nhận vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn để đầu tư, xây dựng doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh; công ty được kinh doanh những ngành, nghề có điều kiện khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề có điều kiện hoặc có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Công ty nhà nước được tổ chức quản lý theo mô hình có hoặc không có Hội đồng quản trị. Các tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập sau đây có Hội đồng quản trị: (i) Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập; (ii) Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước; (iii) Công ty nhà nước độc lập có quy mô vốn lớn giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác.

Loay hoay về khái niệm DN có vốn đầu tư nước ngoài

Dù Luật Đầu tư đã có định nghĩa khái niệm DN có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng trong các văn bản hướng dẫn thực hiện, cách hiểu về khái niệm này cũng không thống nhất. Trên thực tế, mỗi cơ quan lại có cách ứng xử về loại DN này khác nhau, tùy theo cách hiểu của mình. 
Cách hiểu khác nhau dẫn đến ứng xử khác nhau đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Cách hiểu khác nhau dẫn đến ứng xử khác nhau đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài.
Luật quy định thống nhất…
Luật Đầu tư 2005, có hiệu lực từ 1/7/2006, khẳng định: “Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam là nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thành lập tổ chức kinh tế lần đầu tại Việt Nam” và “nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”. Luật Thương mại 2005 khái quát các thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận. 
Đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư xác định là những DN “do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” và “DN Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”. Luật Đầu tư khẳng định Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ của DN trở lên.
Tuy nhiên, tại Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các DN Việt Nam kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày18/06/2009 của Thủ tướng Chính phủ, nhà đầu tư nước ngoài được giải thích là “Tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%”.
Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20/04/2007 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam lại quy định "Nhà đầu tư nước ngoài” bao gồm "tổ chức nước ngoài” là “tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và hoạt động, kinh doanh tại nước ngoài hoặc/và tại Việt Nam”.
Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài Chính lại xác định nhà đầu tư nước ngoài bao gồm cả “tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này” 
Theo Quyết định 55/2009/QĐ-TTg ngày 15/04/2009 của Chính phủ về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm cả “tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%”.
Với những mâu thuẫn nêu trên, Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật DN năm 2010 dường như đã cố gắng giải thích nội dung và tinh thần của các quy định của các văn bản luật. Nghị định này khẳng định, “trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định khác, DN đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước…”. 
Vận dụng “linh hoạt”
Trên thực tế, DN có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI). Trong đó, đầu tư trực tiếp thường dưới hình thức TNHH và trực tiếp tham gia quản lý DN. Còn đầu tư gián tiếp là đầu tư thông qua mua bán cổ phiếu, hoặc thông qua các định chế quỹ và không tham gia quản lý DN.
Tuy nhiên, khái niệm này cũng gây ra nhiều tranh cãi, khi NĐT nước ngoài đầu tư mua cổ phiếu, hoặc thông qua ủy thác đầu tư tại các quỹ đầu tư nhưng nắm giữ tỷ trọng lớn và tham gia vào HĐQT điều hành DN, thì có còn là đầu tư gián tiếp nữa hay không?. Và nếu nhà đầu tư nước ngoài chỉ nắm giữ một thời gian rồi bán ra không tham gia HĐQT nữa thì khi đó DN sẽ thuộc loại gì?.

Một quan điểm khác về loại hình DN này là DN có vốn đầu tư nước ngoài trên 49% vốn điều lệ. Quy định này được điều chỉnh tại các  Quyết định 55/2009/TTg và Quyết định 88/2009/TTg và có xuất phát từ quy định tại Luật Đầu tư (Điểm 4 Điều 29) và Khoản 3, Điều 9 Nghị định 139/2007/CP “NĐTNN được áp dụng các điều kiện đầu tư như nhà ĐT trong nước trong trường hợp các NĐT Việt Nam sở hữu từ 51% trở lên”.
Quy định này cũng dẫn đến việc các DN có vốn nước ngoài trên 49% được hiểu là nhà đầu tư nước ngoài và bị hạn chế bởi các rào cản. 

Khắc phục cách nào?
Ông Phan Vũ Hoàng, Giám đốc Tư vấn Thuế, Cty Deloitte Vietnam, đề xuất, việc định nghĩa DN có vốn đầu tư nước ngoài cần phải được thực hiện trên một số nguyên tắc. Thứ nhất, cần xác định rõ và nhất quán mục đích việc quy định về DN có vốn ĐTNN, là để quy định về thủ tục đầu tư, hay để hạn chế đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực cần hạn chế?. Sau đó, đưa ra các tiêu chí để xác định DN nào là DN có vốn ĐTNN, ví dụ như tỷ lệ sở hữu trong Công ty, hoặc việc tham gia điều hành, hoặc cả hai.
“Sau khi đã xác định xong định nghĩa, có thể đưa ra những danh mục ngành hoặc địa bàn khuyến khích ĐTNN (nếu cần), hoặc đặc biệt là danh mục hạn chế và cấm ĐTNN.
Nếu DN có vốn ĐTNN đầu tư vào những lĩnh vực đó sẽ phải có quy trình thẩm định/phê duyệt phức tạp hơn bình thường, đặc biệt là nếu vốn đầu tư lớn hoặc tỷ lệ sở hữu của nhà ĐTNN cao hơn một mức cụ thể (ví dụ 49%)” – ông Hoàng nói – “Ngoài ra cần có quy định bổ sung trong trường hợp DN có vốn ĐTNN đầu tư vào một lĩnh vực hạn chế, sau khi thay đổi tỷ lệ sở hữu, tỷ lệ sở hữu của nhà ĐTNN vượt quá 49% thì DN và nhà ĐTNN cần làm gì (ví dụ: phải rút khỏi ngành hoặc nhà ĐTNN phải bán bớt cổ phần hoặc phần vốn góp cho một bên VN để đảm bảo tỷ lệ v.v.)”.
Trong khi đó, các chuyên gia từ Vụ Pháp chế (Bộ KH&ĐT) lưu ý, việc sửa đổi khái niệm FDI là cần thiết, trong đó phải phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn pháp luật tại Việt Nam.

Tọa đàm khái niệm doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và thủ tục đầu tư

(MPI Portal) – Ngày 31/8, tại Hà Nội, Vụ Pháp Chế và Báo Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức tọa đàm “Khái niệm doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và thủ tục đầu tư” với mục tiêu thống nhất khái niệm doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Đây là cơ hội để các cơ quan liên quan và doanh nghiệp trao đổi những khó khăn, vướng mắc liên quan đến khái niệm doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và thủ tục đầu tư.

Tham dự buổi Tọa đàm có Vụ trưởng Vụ Pháp Chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Hào Hùng, Tổng Biên tập Báo Đầu tư Nguyễn Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, Ủy ban Chứng khoán nhà nước Nguyễn Sơn, đại diện công ty kiểm toán KPMG Việt Nam, Deloitte Việt Nam, đại biểu từ các cơ quan ban ngành liên quan, đại diện Sở Kế hoạch và Đầu tư, các doanh nghiệp và các cơ quan thông tấn báo chí.

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng Biên tập Báo Đầu tư cho biết, khái niệm về doanh nghiệp ĐTNN tưởng chừng như rất đơn giản và rõ ràng. Nhưng trên thực tế khái niệm này vẫn còn nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau. Điều này gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh và thủ tục cấp đầu tư kinh doanh, trở thành đề tài còn nhiều tranh luận giữa doanh nghiệp và các cơ quan chức năng.
 Vì vậy, theo ông Nguyễn Anh Tuấn, thông qua buổi Tọa đàm này sẽ đưa ra cách nhìn đầy đủ về khái niệm doanh nghiệp ĐTNN. Ông cho biết thêm, trong thời gian tới  Luật Đầu tư sẽ được Quốc hội sửa đổi nhằm giải quyết những vướng mắc trên thực tế. Ông Tuấn nhấn mạnh, Việt Nam đã gia nhập WTO, vì vậy cần có sự sửa đổi Luật Đầu tư để tháo gỡ rào cản trong môi trường đầu tư.

Sau 6 năm có hiệu lực, Luật Đầu tư đã phát huy được những tác dụng tích cực của mình trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài. Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2006-2011 hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã tăng mạnh mẽ với tổng số vốn đầu tư giai đoạn này đạt 162 tỷ USD. Trong đó, năm thu hút đầu tư cao nhất là năm 2008 với tổng mức đầu tư 71,7 tỷ USD.

Tuy nhiên, theo ông Tuấn, bên cạnh thành công, những kết quả đạt được thì quá trình áp dụng Luật Đầu tư vẫn còn những bất cập, hạn chế. Cụ thể, liên quan đến khái niệm doanh nghiệp ĐTNN vẫn còn nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu khác nhau.

Theo Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế Quách Ngọc Tuấn, Luật Đầu tư 2005 đã tạo bước tiến quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luật này quy định thông thoáng về quy trình đầu tư. Theo đó, Luật đã được áp dụng rộng rãi về đăng ký đầu tư và bãi bỏ, cấp phép, kiểm duyệt và trao quyền tự chủ cho các nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh của mình.

Khái niệm doanh nghiệp ĐTNN xuất hiện đầu tiên tại Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, theo đó doanh nghiệp đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài và phần góp vốn của bên nước ngoài trong doanh nghiệp liên doanh không được thấp hơn 30% tổng số vốn.

Còn theo Luật Đầu tư 2006, được áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Liên quan đến khái niệm này, nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn Điều lệ của doanh nghiệp trở lên. Cũng có trường hợp, doanh nghiệp thành lập và hoạt động ở Việt Nam có sở hữu của bên nước ngoài trên 49% là nhà ĐTNN.

Chính vì còn những khái niệm và cách hiểu khác nhau dẫn đến những vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn là việc áp dụng thủ tục đầu tư khác nhau trong việc thành lập mới doanh nghiệp của nhà ĐTNN và lúng túng trong việc áp dụng pháp luật đối với những trường hợp thay đổi từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành doanh nghiệp trong nước và ngược lại. Vì vậy, theo đại diện của Vụ Pháp chế, sẽ sớm hoàn thiện khái niệm doanh nghiệp ĐTNN.

Tọa đàm đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ các diễn giả, các đại biểu nhằm thay đổi, bổ sung, sửa đổi Luật Đầu tư tạo cơ sở pháp lý, điều kiện, môi trường cho các nhà đầu tư nước ngoài. Ban tổ chức Tọa đàm tổng hợp, trình lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và sẽ sửa đổi Luật Đầu tư trình Quốc hội trong thời gian tới./

Khu biệt khái niệm nhà đầu tư nước ngoài

Nếu trả lời được câu hỏi doanh nghiệp được thành lập ở Việt Nam có cổ phần, phần vốn góp của cá nhân, tổ chức nước ngoài có phải là nhà đầu tư nước ngoài hay không, hàng loạt rối rắm trong thực thi pháp luật về đầu tư có yếu tố nước ngoài sẽ được gỡ bỏ.


Đây là một trong những thông điệp chính mà Nhóm rà soát Luật Đầu tư (do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chủ trì), đúc rút khi lấy ý kiến doanh nghiệp về những tồn tại trong thực hiện Luật Đầu tư.

Khi đó, nhà đầu tư có đủ thông tin để quyết định sử dụng công cụ nào để đầu tư tại Việt Nam, xác định những điều kiện, hạn chế (ví dụ như các điều kiện trong thực hiện cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới - WTO) mà họ sẽ phải chịu khi quyết định sử dụng công cụ đầu tư đó. Chắc chắn, vụ xin rút niêm yết của Công ty cổ phần Hóa - Dược phẩm Mekophar do bị giới hạn kinh doanh khi có phần góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài với vô vàn hệ lụy sẽ không còn cơ hội trở lại.

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, ông Phan Đức Hiếu, Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương), Trưởng nhóm rà soát cho biết, phương án doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bất kể với tỷ lệ là bao nhiêu, khi thực hiện các dự án đầu tư đều là nhà đầu tư nước ngoài đang được ủng hộ.

“Thực tế, tỷ lệ 30% hay 49% để xác định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài rất ít cơ sở khoa học để bảo vệ. Thứ nhất, sự thay đổi tỷ lệ góp vốn trong các doanh nghiệp là thường xuyên, nếu căn cứ vào tỷ lệ % vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài, sẽ xảy ra tình trạng doanh nghiệp bị thay đổi địa vị pháp lý liên tục. Hai là, việc kiểm soát tỷ lệ này không thể thực hiện được khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này tiến hành góp vốn ở các công ty con, cháu khác… Khi đó, giá trị pháp lý và ý nghĩa thực tiễn của tỷ lệ này rất bấp bênh”, ông Hiếu phân tích.

Mấu chốt là, việc thay đổi địa vị pháp lý này sẽ dẫn đến thay đổi tính chất của dự án đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư. Luật sư Phạm Chí Công, Luật sư điều hành Công ty Luật Khai Phong phân tích, nếu dự án đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư không làm lại thủ tục khi có sự thay đổi tỷ lệ vốn của nhà đầu tư nước ngoài, việc phân loại dự án đầu tư không còn ý nghĩa. Nếu phải làm lại, các nhà đầu tư luôn trong tình trạng bị động và rủi ro. Còn về góc độ quản lý nhà nước về đầu tư, việc kiểm soát được sự biến động của tỷ lệ vốn của nhà đầu tư nước ngoài là trách nhiệm bất khả thi.

Nếu đề xuất doanh nghiệp dù có tỷ lệ bao nhiêu vốn của nhà đầu tư nước ngoài là nhà đầu tư nước ngoài được chấp thuận, việc tách bạch giữa thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục đầu tư và các điều kiện để thực hiện thương quyền sẽ được thực hiện.

Có nghĩa là, thủ tục thành lập doanh nghiệp, góp vốn thành lập và các quy định về quản trị doanh nghiệp sẽ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp. Các thủ tục về đầu tư sẽ được thực hiện tùy theo tính chất dự án doanh nghiệp tham gia. Việc kiểm soát điều kiện hay những giới hạn về thương quyền sẽ do các luật chuyên ngành thực hiện với các quy định về điều kiện, giới hạn của từng ngành nghề, lĩnh vực.

Đặc biệt, cũng có ý kiến đề nghị thống nhất thủ tục cấp đăng ký và thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư gắn với thủ tục giao đất, cho thuê đất để đảm bảo đúng mục đích sử dụng đất theo quy hoạch. Các quy định về kiểm soát tiến độ chuyển tiền vào Việt Nam qua hệ thống ngân hàng cũng cần được bổ sung để đảm bảo đúng tính chất của đầu tư nước ngoài là hoạt động đưa vốn từ bên ngoài vào Việt Nam để đầu tư…

Có thể lường trước, những thay đổi này sẽ khiến nhà đầu tư phải chịu thêm không ít thủ tục, song như luật sư Công nói, nhà đầu tư nước ngoài không ngại sự phức tạp khi tiến hành các thủ tục đầu tư, cái họ sợ là sự không minh bạch, thiếu thống nhất và hay thay đổi.

Làm rõ khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Sự không rõ ràng trong khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang làm khó cho cả cơ quan quản lý nh nước lẫn doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục đầu tư kinh doanh.


Trong buổi Tọa đàm về Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thủ tục kinh doanh do Báo Đầu tư phối hợp với Vụ Pháp chế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa diễn ra sáng nay, xác định thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục được tranh luận gay gắt. 
Theo phân tích của ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng biên tập Báo Đầu tư, cho dù Luật Đầu tư năm 2005 đã có hiệu lực gần 7 năm, hoạt động đầu tư nước ngoài đang hiện diện ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân, song khái niệm mang tính dẫn hướng cho cả cơ quan quản lý nhà nước cũng như nhà đầu tư trong thực thi pháp luật về đầu tư lại vẫn không rõ ràng.

Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại...

Với quy định chung này, doanh nghiệp Việt Nam chỉ cần có 1 cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài sẽ được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đương nhiên, các doanh nghiệp này sẽ phải gánh chịu những điều kiện đầu tư dành cho khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các điều kiện hạn chế gia nhập thị trường theo cam kết với WTO của Việt Nam.

Tuy nhiên, Khoản 4, Điều 29, cũng của Luật Đầu tư quy định: "nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp trở lên…".

Nghị định 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp quy định cụ thể, doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ dưới 49% cổ phần được áp dụng các điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước tức là doanh nghiệp Việt Nam.

Hệ lụy của tình trạng này là có thể cùng một vấn đề song cách ứng xử ở các cơ quan, các địa phương khác nhau rất khác nhau trong thực hiện thủ tục đầu tư. Câu chuyện phải xin hủy niêm yết, khóa room nhà đầu tư nước ngoài của CTCP Hóa - Dược phẩm Mekophar chỉ là một giọt nước làm tràn ly.

Tuy vậy, xác định câu trả lời cụ thể cho vấn đề này dường như vẫn quá khó. Ngay cả tỷ lệ 10% hay 49% sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp mà nhiều chuyên gia đề xuất căn cứ theo pháp luật của một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, quy định của OECD cũng chưa nhận được sự đồng thuận.

Ông Phan Đức Hiếu, Phó ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) chia sẻ kinh nghiệm, theo pháp luật của Hàn Quốc, đầu tư nước ngoài là sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty của Hàn Quốc, khoản vay nước ngoài và đóng góp nhà đầu tư nước ngoài vào tổ chức phi lợi nhuận.


“Tiêu chí xác định doanh nghiệp có vốn ĐTNN gồm: với hình thức góp vốn, mua cổ phần: là trên hoặc bằng 50 triệu Won, sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết hoặc thỏa thuận về bãi nhiệm/bổ nhiệm người quản lý; thỏa thuận mua nguyên vật liệu, sản phẩm; cung cấp công nghệ, cùng R&D. Điều kiện này áp dụng cho từng nhà đầu tư và được tính tính theo vốn thực tế khi hoàn thành thủ tục đầu tư”, ông Hiếu cho biết các tiêu chí này được xác định nhằm mục tiêu quản lý dòng vốn nước ngoài thực. “Với Việt Nam, câu hỏi cần phải được trả lời lúc này là đặt mục tiêu gì đối với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Phải xác định rõ mục tiêu, việc xây dựng tiêu chí, khái niệm sẽ đúng hướng, phục vụ theo mục tiêu đã định” ông Hiếu đề xuất.

Cho tới thời điểm này, các thảo luận vẫn đang được tiếp tục. Tuy nhiên, khuyến nghị của các nhà đầu tư là nếu như các cơ quan lập pháp không nhanh chóng làm rõ và thống nhất khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tất cả các văn bản pháp luật hiện hành, những rắc rối tương tự như Mekophar chắc chắn sẽ xảy ra nhiều hơn. Điều này sẽ ảnh hưởng bất lợi tới môi trường kinh doanh của Việt Nam.

Một số khái niệm về Đầu tư nước ngoài

1.              Ðầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2.              Ðầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
3.              Ðầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
4.              Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm: 
·                Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp;
·                Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã;
·                Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực;
·                Hộ kinh doanh, cá nhân;
·                Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
·                Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

5.              Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

6.              Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.

7.              Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư.

8.              Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.

9.              Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp.

10.          Vốn nhà nước là vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước.

11.          Chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân sở hữu vốn hoặc người thay mặt chủ sở hữu hoặc người vay vốn và trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư.

12.          Ðầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.

13.          Ðầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

14.          Ðầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư.

15.          Lĩnh vực đầu tư có điều kiện là lĩnh vực chỉ được thực hiện đầu tư với các điều kiện cụ thể do pháp luật quy định.

16.          Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.

17.          Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.

18.          Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.

19.          Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT.

20.          Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.

21.          Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.

22.          Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.

Bất nhất về khái niệm “đầu tư nước ngoài” và hệ luỵ

Điều này làm hạn chế dòng vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam, thông qua hình thức mua bán cổ phần, sáp nhập DN.

Luật Đầu tư và các văn bản dưới luật
Luật Đầu tư 2005 quy định: “NĐT nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam là NĐT nước ngoài đầu tư thành lập tổ chức kinh tế lần đầu tại Việt Nam” và “NĐT nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”.
Đối với DN có vốn ĐTNN, Luật Đầu tư xác định là những DN do NĐT nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; DN Việt Nam do NĐT nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. NĐT nước ngoài được áp dụng điều kiện như NĐT trong nước trong trường hợp các NĐT Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ của DN trở lên.

Văn bản dưới luật giải thích:
Nghị định 69/2007/NĐ-CP quy định, NĐT nước ngoài bao gồm “tổ chức nước ngoài” là “tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và hoạt động, kinh doanh tại nước ngoài hoặc/và tại Việt Nam”.
Quyết định 121/2008/QĐ-BTC xác định, NĐT nước ngoài bao gồm cả “tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này”.
Theo Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg, NĐT nước ngoài bao gồm cả “tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%”.
Nghị định 102/2010/NĐ-CP khẳng định: “Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định khác, DN đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của NĐT nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với NĐT trong nước…”.
“DN có vốn ĐTNN đã thành lập tại Việt Nam dự định thành lập DN mới tại Việt Nam thực hiện theo quy định sau:
Trường hợp DN mới do DN có trên 49% vốn điều lệ là sở hữu của NĐT nước ngoài thành lập hoặc tham gia thành lập thì phải có dự án đầu tư và thực hiện đăng ký đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư. Trong trường hợp này, DN được cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký DN. 

Trường hợp DN mới do DN có không quá 49% vốn điều lệ là sở hữu của NĐT nước ngoài thành lập, tham gia thành lập thì việc thành lập DN thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc đăng ký đầu tư trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước”.
Đối với trường hợp góp vốn, mua cổ phần của NĐT nước ngoài, Nghị định 102 xác định: “NĐT nước ngoài thực hiện góp vốn vào công ty TNHH hoặc nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hoặc của chủ sở hữu công ty theo quy định về góp vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp và đăng ký thay đổi thành viên theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Việc đăng ký thay đổi thành viên đối với công ty đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về đầu tư. Việc đăng ký thay đổi thành viên trong trường hợp khác thực hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh (ĐKKD)”.
 
Khái niệm về NĐT nước ngoài hiện khá chồng chéo trong nhiều văn bản pháp luật
Vướng mắc từ thực tế
Theo Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, những quy định về “NĐT nước ngoài” thuộc các văn bản dưới luật được ban hành trước Nghị định 102 sẽ hết hiệu lực. Nhưng trên thực tế, ở thời điểm hiện tại, hầu hết các phòng ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư của các tỉnh, thành phố đều từ chối thụ lý hồ sơ thành lập tổ chức mới có sự tham gia góp vốn, mua cổ phần của DN có sở hữu của NĐT nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ và từ chối thụ lý hồ sơ của các DN đã được cấp ĐKKD bán cổ phần, vốn góp cho NĐT nước ngoài.
Có nơi cho rằng, họ không giải quyết trường hợp này vì chưa có hướng dẫn cụ thể. Nơi khác thì hướng dẫn DN thực hiện thủ tục tại phòng ĐTNN, nhưng khi DN sang phòng ĐTNN lại được hướng dẫn quay trở lại phòng ĐKKD. Thậm chí, có nơi lại yêu cầu DN phải loại bỏ tất cả những ngành nghề đã ĐKKD trong lĩnh vực phân phối và/hoặc liên quan đến phân phối thì mới thụ lý hồ sơ cho phép bán cổ phần/vốn góp cho NĐT nước ngoài của DN.
Một trong những lý do mà các Sở Kế hoạch và Đầu tư trong cả nước có sự áp dụng khác nhau quy định của pháp luật và dường như là không chấp hành Nghị định 102 là do Công văn 10725/BCT-KH ngày 27/10/2009 của Bộ Công thương. Công văn này cho rằng, “đối với trường hợp NĐT nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của DN Việt Nam, khi NĐT nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của các DN Việt Nam đã được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD có hoạt động mua bán hàng hóa và/hoặc các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa là trường hợp NĐT nước ngoài lần đầu đầu tư hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa. Do đó, NĐT phải thực hiện thủ tục đầu tư tại cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư”.

Ngành nào được bán cổ phần cho NĐT ngoại? 
Quyền mua cổ phần chào bán hay góp vốn bổ sung của NĐT nước ngoài cũng bị hạn chế đối với một số lĩnh vực ngành nghề do Chính phủ quy định hoặc phải theo cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam với các điều ước quốc tế đa phương (ví dụ Cam kết WTO) và song phương (ví dụ Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ) và không phải là hành vi tập trung kinh tế bị cấm.
Nhiều cơ quan nhà nước có cách hiểu khác nhau về quyền này trong trường hợp NĐT nước ngoài tham gia đầu tư vào các loại hình DN kể trên. Các hiểu khác nhau chủ yếu tập trung vào sự hạn chế của quyền này theo Cam kết WTO. Ví dụ, một số cơ quan ĐKKD cho rằng, những ngành nghề không được quy định trong Biểu dịch vụ của Cam kết WTO thì không được phép “chào bán cổ phần” cho NĐT nước ngoài.
Những “cách ứng xử” nêu trên đã làm ảnh hưởng đến tâm lý của các NĐT nước ngoài và cả trong nước về tính thống nhất của pháp luật Việt Nam. Trong xu hướng ĐTNN hiện nay, các NĐT nước ngoài đã trở nên thận  trọng và e dè hơn, vì các ưu đãi đối với hình thức này không còn khác biệt như các DN Việt Nam. Xu hướng đầu tư thông qua việc mua cổ phần, góp thêm vốn cho các DN Việt Nam phù hợp với các quy mô đầu tư dù nhỏ, vừa hay lớn và các loại hình tổ chức DN. Nếu việc áp dụng các văn bản dưới luật tiếp tục thiếu rõ ràng trong chính sách đối với NĐT nước ngoài, thì dòng vốn đầu tư từ nước ngoài hay dòng vốn tái đầu tư từ các DN có vốn ĐTNN vào các DN Việt Nam khác sẽ bị hạn chế. 

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Mô hình công ty mẹ – công ty con

Mô hình công ty mẹ – công ty con
Cho đến nay, khái niệm về công ty mẹ, công ty con ở các nước cũng đã thay đổi theo thời gian và không gian.
Theo diễn giải của chuẩn mực kế toán quốc tế ISA (International Accounting Standard), công ty mẹ (Parent company) là một thực thể pháp lý có ít nhất một đơn vị trực thuộc – công ty con (Subsidiary). Công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ. Kiểm soát ở đây được hiểu là: (1) sở hữu trực hoặc gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu; hoặc (2) sở hữu 50% số phiếu bầu hoặc ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50% số phiều bầu theo sự thỏa thuận với các cổ đông khác; hoặc nắm quyền lãnh đạo, điều hành liên quan đến các chính sách tài chính hay sản xuất kinh doanh của công ty và được qui định tại điều lệ, theo sự thỏa thuận hay hợp đồng; hoặc có quyền bổ nhiệm hay miễn nhiệm phần lớn các thành viên của HĐQT, ban lãnh đạo; hay có quyền quyết định, định hướng đến phần lớn số phiếu bầu tại các cuộc họp HĐQT, ban lãnh đạo.
Theo Luật công ty của Anh năm 1985, công ty mẹ được hiểu là công ty nắm cổ phần khống chế (trên 50%) ở công ty khác (công ty con). Tuy nhiên, theo tu chính năm 1989 để phù hợp với “Hướng dẫn chính thức lần thứ 7 về Luật công ty” (Seventh Company Law Directive) của Cộng đồng châu Âu (EC) thì (A) là công ty mẹ của công ty con (B) khi: (1) A là cổ đông nắm giữ đa số phiếu bầu ở B; (2) A là cổ đông và có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm phần lớn thành viên HĐQT của B; (3) A có quyền quyết định về chính sách tài chính và sản xuất kinh doanh của B bằng sự thỏa thuận chính thức, hợp đồng; (4) A là cổ đông của B và có quyền kiểm soát phần lớn phiếu bầu một cách độc lập hay liên kết với các cổ đông khác; hoặc (5) A có quyền lợi tham gia điều hành (participating interest – được hiểu là nắm giữ từ 20% cổ phần) và trên thực tế thực hiện quyền chi phối đối với B hoặc A và B có cùng một cơ chế quản lý thống nhất. Ngoài ra, nếu giữa B và C có quan hệ tương tự như A và B thì giữa A và C có quan hệ như mô hình trên (công ty mẹ – công ty con).

Theo Luật công ty của Liên bang Nga năm 1995, một công ty được gọi là công ty con (tiếng Nga gọi là Dotchernie) nếu do một công ty khác – công ty mẹ (Osnovnoe) nắm giữ cổ phần khống chế trong vốn điều lệ hoặc bị công ty khác chi phối các quyết định của mình hoặc bằng một thoả thuận chính thức hay dưới hình thức nào đó. Luật không qui định một cách cụ thể thế nào là cổ phần khống chế và không nêu cụ thể hình thức hợp đồng, thỏa thuận như thế nào liên quan đến việc chi phối các quyết định của công ty con.

Tuy cách diễn giải có khác nhau, có thể rút ra những đặc trưng của quan hệ công ty mẹ – công ty con là: thứ nhất, công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, có sản nghiệp riêng (pháp nhân kinh tế đầy đủ); thứ hai, công ty mẹ có lợi ích kinh tế nhất định liên quan đến hoạt động của công ty con; thứ ba, công ty mẹ chi phối đối với các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty con thông qua một số hình thức như quyền bỏ phiếu chi phối đối với các quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm HĐQT, ban lãnh đạo hoặc quyền tham gia quản lý, điều hành; thứ tư, vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và mang tính tương đối, tức công ty con này có thể là công ty mẹ của một công ty khác (tính tương đối này càng nổi bật hơn trong trường hợp các công ty trong một nhóm có nắm giữ vốn cổ phần qua lại của nhau, thí dụ như theo mô hình của các tập đoàn của Nhật); thứ năm, trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con nói chung là trách nhiệm hữu hạn; thứ sáu, về mặt lý thuyết, mô hình quan hệ này sẽ tạo cho cơ cấu tổ chức của các công ty trong nhóm có chiều sâu không hạn chế; tức công ty mẹ, con công ty con, công ty cháu...

Một vấn đề cần lưu ý là, mặc dù công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, và nếu công ty con là công ty có trách nhiệm hữu hạn thì công ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm đối với phần vốn góp hay cổ phần của mình mà thôi, nhưng do mối quan hệ có tính chất chi phối các quyết định của công ty con, nên luật pháp nhiều nước bắt buộc công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về những ảnh hưởng của công ty mẹ đối với công ty con. Thí dụ, Luật công ty của Cộng hoà Liên bang Nga qui định nếu công ty mẹ đưa ra chỉ thị buộc công ty con phải thực hiện theo một cam kết nào đó giữa công ty mẹ và công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới.

Ngoài ra, theo luật pháp của nhiều nước và theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì công ty mẹ phải có trách nhiệm trình báo cáo tài chính tập trung hay hợp nhất (Consolidated financial statement) tại đại hội cổ đông của công ty mẹ, trừ trường hợp công ty mẹ là công ty con của một công ty khác hoặc hoạt động của công ty con quá khác biệt với công ty mẹ; bởi lẽ, dù là hai thực thể pháp lý độc lập nhưng trên thực tế chúng là những công ty liên kết (affiliated), một thực thể kinh tế hợp nhất (xem hình).
 
 
Mô hình công ty mẹ – công ty con có nhiều ưu điểm cả về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, đặc biệt là đối với những nhóm doanh nghiệp có qui mô lớn như các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia và đa quốc gia. Thứ nhất, theo mô hình này, khi một đơn vị kinh doanh chiến lược của một doanh nghiệp phát triển đến mức yêu cầu phải có sự tự chủ trong hoạt động, thì các doanh nghiệp có xu hướng tách đơn vị kinh doanh chiến lược này thành một thực thể pháp lý độc lập, và về mặt pháp lý không chịu trách nhiệm liên quan đến hoạt động của nó. Chính với trách nhiệm hữu hạn này của chủ sở hữu là điều kiện cần để chủ sở hữu có thể xác lập một cơ chế quản lý phân cấp triệt để hơn khi nó còn là một bộ phận trực thuộc của công ty mẹ. Thứ hai, với mối quan hệ theo mô hình công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ còn có thể thực hiện được chiến lược chuyển giá (price transferring), nhất là trong những trường hợp các doanh nghiệp lập cơ sở kinh doanh ở nước ngoài. Thứ ba, với mô hình này, các doanh nghiệp có thể thực hiện được sự liên kết với các doanh nghiệp khác nhằm giảm cạnh tranh, tăng độc quyền của thiểu số, cùng phối hợp hay chia sẻ các nguồn lực, tận dụng các thế mạnh của các cổ đông... bằng cách cùng nhau đầu tư lập các công ty con. Thứ tư, mô hình công ty mẹ – công ty con cho phép các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc bố trí và tái bố trí lại cơ cấu đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau theo chiến lược phát triển của doanh nghiệp bằng việc mua hoặc bán cổ phần của mình trong các công ty con. Cuối cùng, mô hình công ty mẹ – công ty con cho phép một doanh nghiệp huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh bằng cách thành lập công ty con mới trong điều kiện vừa có thể kiểm soát được doanh nghiệp mới thành lập một cách hữu hiệu thông qua cổ phần khống chế, vừa không bị các nhà đầu tư chi phối đối với doanh nghiệp cũ.
Chính vì những ưu điểm nêu trên, hiện nay ở nhiều nước, mô hình công ty mẹ – công ty con gần như là mô hình duy nhất được sử dụng để xác lập mối quan hệ giữa các công ty trong cùng một nhóm, một tập đoàn.
Mô hình tổ chức hệ thống doanh nghiệp nhà nước VN hiện nay
Hiện nay, mô hình cơ cấu tổ chức và quan hệ quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới các hình thức như sau:
Thứ nhất, quan hệ giữa các tổng công ty và các công ty hạch toán độc lập
-Về vốn, vốn của các công ty là một phần vốn của tổng công ty; công ty được tổng công ty giao vốn và có thể điều hòa vốn giữa các đơn vị thành viên; việc sử dụng vốn phải tuân thủ những qui chế, qui định về phân cấp quản lý và sử dụng vốn của tổng công ty;
-Về mặt hạch toán, công ty là một đơn vị hạch toán tài chính, kinh tế độc lập, báo cáo tài chính sẽ được hợp nhất với tổng công ty vào cuối niên độ;
- Về mặt pháp lý, công ty do Bộ quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật (nếu là tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập) và Bộ trưởng bộ chủ quản hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố (nếu là tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ủy quyền bộ hoặc UBND tỉnh, thành phố) ký quyết định thành lập, là một pháp nhân độc lập, đăng ký hoạt động theo luật;
-Về quyền tổ chức quản lý và tổ chức kinh doanh, như tổ chức bộ máy, lĩnh vực kinh doanh, thị trường, giá cả; về đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị; về lao động... phải phù hợp với sự phân cấp và ủy quyền của tổng công ty;
- Về mặt tổ chức cán bộ, việc bổ nhiệm và miễn nhiệm ban lãnh đạo sẽ do HĐQT tổng công ty quyết định;
-Công ty hoạt động, quản lý theo điều lệ riêng do HĐQT tổng công ty phê chuẩn;
-Công ty có thể thành lập và quyết định bộ máy của các đơn vị trực thuộc;
-Về nguyên tắc tổng công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với công ty thành viên. 
Thứ hai, quan hệ giữa các tổng công ty và các công ty hạch toán phụ thuộc
-Về vốn, công ty thành viên hạch toán phụ thuộc thì không được giao vốn, không được huy động vốn;
-Về mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty hạch toán phụ thuộc chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế, chủ động thực hiện hoạt động kinh doanh theo sự phân cấp và ủy quyền của tổng công ty;
-Về hạch toán kinh tế, công ty hạch toán phụ thuộc vào tổng công ty, báo cáo tài chính hàng năm được hợp nhất với báo cáo tài chính tổng công ty;
-Về mặt tài chính, theo sự phân cấp hoặc ủy quyền của tổng công ty;
-Về tổ chức và nhân sự, theo sự phân cấp và ủy quyền của tổng công ty;
-Về mặt pháp lý, do HĐQT của tổng công ty quyết định thành lập, có con dấu và có tài khoản tại ngân hàng;
-Công ty hạch toán phụ thuộc không có quyền thành lập các đơn vị thành viên;
-Về nguyên tắc tổng công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với công ty thành viên.
Thứ ba, quan hệ giữa công ty hạch toán độc lập và đơn vị phụ thuộc của công ty hạch toán độc lập
-Về vốn, đơn vị phụ thuộc không được giao vốn, không được huy động vốn;
-Về mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, đơn vị phụ thuộc chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế, thực hiện hoạt động kinh doanh theo sự phân cấp và ủy quyền của tổng công ty;
-Về hạch toán kinh tế, đơn vị phụ thuộc hạch toán phụ thuộc vào công ty, báo cáo tài chính hàng năm được hợp nhất với báo cáo tài chính công ty;
-Về mặt tài chính, theo sự phân cấp hoặc ủy quyền của công ty;
-Về tổ chức và nhân sự, theo sự phân cấp và ủy quyền của công ty;
-Về mặt pháp lý, do công ty quyết định thành lập, có con dấu và có tài khoản riêng;
-Về nguyên tắc, công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với đơn vị phụ thuộc.
Sự khác biệt giữa hai mô hình
Mô hình tổng công ty và đơn vị thành viên hiện nay có một số điểm tương đồng với mô hình công ty mẹ – công ty con là: (1) tổng công ty là cổ đông; (2) có quyền quyết định đến hoạt động của công ty thành viên bằng nhiều cơ chế khác nhau.
Tuy nhiên, giữa hai mô hình có những khác biệt quan trọng. Thứ nhất, với mô hình tổng công ty thì cơ cấu tổ chức của tổng công ty (một nhóm các công ty) bị giới hạn có 3 cấp – tổng công ty, công ty và xí nghiệp hạch toán phụ thuộc (hoặc tương đương). Trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ - công ty con thì tầng nấc trong cơ cấu tổ chức, về mặt lý thuyết, là không giới hạn – công ty mẹ, công ty con, công ty cháu... Thứ hai, về nguyên tắc, quan hệ công ty mẹ đối với công ty con là trách nhiệm hữu hạn, còn quan hệ giữa tổng công ty và đơn vị thành viên là trách nhiệm vô hạn. Thứ ba, về mặt pháp lý, các đơn vị thành viên của tổng công ty và công ty là những pháp nhân độc lập chưa đầy đủ, vì đối với một số hoạt động của đơn vị thành viên, luật pháp yêu cầu phải có ủy quyền chính thức của doanh nghiệp chủ quản như lĩnh vực đầu tư, tài chính, tổ chức cán bộ...; trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ - công ty con, các doanh nghiệp là những pháp nhân đầy đủ. Thứ tư, các đơn vị thành viên hạch toán độc lập trong mô hình tổng công ty không phải do tổng công ty quyết định thành lập (xem phần phân tích ở trên), mặc dù về mặt pháp lý tổng công ty là chủ sở hữu. Trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì công ty mẹ là người sáng lập (hoặc tham gia sáng lập). Thứ năm, trong mô hình tổng công ty, phần lớn bộ máy của tổng công ty chỉ thực hiện chức năng quản lý hành chính, trong khi đó ở mô hình công ty mẹ – công ty con thì công ty mẹ là một doanh nghiệp có sản phẩm, có khách hàng, có thị trường. Thứ sáu, những qui chế, qui định đối với một số lĩnh vực hoạt động của các thành viên trong tổng công ty thường có tính pháp qui; trong khi đó, những qui chế, qui định của các thành viên trong mô hình công ty mẹ – công ty con hoàn toàn mang tính chất quản lý. Thứ bảy, quá trình hình thành tổng công ty cho thấy, theo mô hình tổng công ty thì ít nhất phải có hai công ty thành viên tồn tại trước khi có tổng công ty (con đẻ ra bố), trong khi đó theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì công ty mẹ thường phải tồn tại trước, sáng lập hoặc tham gia sáng lập ra công ty con (trừ trường hợp mua lại). Thứ tám, trong mô hình hiện hữu, tổng công ty (công ty) là chủ sở hữu của cả sản nghiệp (cả tài sản có và tài sản nợ) của công ty thành viên, tức vừa sở hữu vốn vừa sở hữu tài sản (về thực chất) và tài sản (vốn) công ty con là tài sản (vốn) của công ty mẹ; trong khi đó, theo mô hình công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ chỉ sở hữu phần vốn đầu tư trong công ty con mà thôi, và vốn của công ty con là tài sản của công ty mẹ (đầu tư dài hạn). Cuối cùng, mô hình tổng công ty – công ty thành viên không cho phép huy động vốn một các có hiệu quả; không cho phép tổng công ty (công ty) thay đổi cơ cấu vốn đầu tư trong các doanh nghiệp thành viên một cách linh hoạt.
Vấn đề chuyển đổi mô hình
Những khác biệt giữa mô hình công ty mẹ – công ty con và mô hình tổng công ty được nêu ở trên cũng là những điểm bất cập của mô hình liên kết hiện tại giữa các doanh nghiệp thành viên trong cùng một nhóm. Để đổi mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước một cách cơ bản theo hướng phát triển thành những tập đoàn kinh tế mạnh, điều kiện tiên quyết là Nhà nước cần chuyển đổi các quan hệ của các thành viên trong một nhóm (tổng công ty) theo mô hình công ty mẹ – công ty con.
Để chuyển từ mô hình hiện tại sang mô hình mới cần giải quyết một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước cần có những bước đánh giá, phân tích một cách khoa học chuỗi giá trị (value chain) của nhóm (các thành viên tổng công ty) để xác định những công ty nòng cốt, nắm giữ khâu then chốt trong chuỗi giá trị tổng công ty để chuyển đơn vị thành viên này trở thành công ty mẹ, nắm giữ vốn cổ phần trong các công ty con. Công ty mẹ có thể là công ty sản xuất, thương mại – dịch vụ, nghiên cứu và phát triển hoặc là công ty tài chính – ngân hàng. Việc chọn công ty mẹ này đồng nghĩa với việc giải thể bộ máy quản lý hành chính của các tổng công ty hiện nay.
Thứ hai, tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp thành viên không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, chuyển các doanh nghiệp thành viên thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sang hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật doanh nghiệp. Thực hiện bước này đồng nghĩa với việc xóa bỏ cơ chế chủ quản đối với các doanh nghiệp thành viên (các công ty con); công ty mẹ chỉ còn là chủ sở hữu phần vốn cổ phần tại các công ty con, thay vì là chủ của toàn bộ sản nghiệp.
Thứ ba, xác lập một cơ chế quản lý mới, chỉ giao trách nhiệm quản lý và sử dụng vốn nhà nước ở các công ty mẹ cho HĐQT hoặc chủ tịch công ty nếu doanh nghiệp không có HĐQT, và dưới hình thức “hợp đồng quản lý” (như một số nước áp dụng Management hoặc Performance Contract). Điều này có nghĩa là sẽ không còn những qui định về quản lý mang tính pháp qui (luật, nghị định, thông tư...) cho riêng đối với việc quản lý doanh nghiệp nhà nước như hiện nay, mà nó được xác lập theo hợp đồng quản lý – quan hệ dân sự, lao động. 
Thứ tư, cho quyền HĐQT, chủ tịch công ty được chủ động quyết định việc thuê giám đốc nếu xét cần thiết, và theo cơ chế thị trường lao động.
Tóm lại, mô hình công ty mẹ – công ty con về cơ bản sẽ giúp chúng ta giải quyết một số vướng mắc mang tính nguyên tắc trong quản lý hiện nay. Nó là điều kiện cần để đổi mới cơ chế quản lý hệ thống DNNN và chuyển mô hình tổng công ty nhà nước sang mô hình tập đoàn kinh tế như các nước, nên cần được sớm áp dụng rộng rãi.

Mô hình công ty mẹ, công ty con là gì ?

Thứ nhất, công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập, có sản nghiệp riêng (pháp nhân kinh tế đầy đủ);

Thứ hai, công ty mẹ có lợi ích kinh tế nhất định liên quan đến hoạt động của công ty con;

Thứ ba, công ty mẹ chi phối đối với các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty con thông qua một số hình thức như quyền bỏ phiếu chi phối đối với các quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm HĐQT, ban lãnh đạo hoặc quyền tham gia quản lý, điều hành;

Thứ tư, vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và mang tính tương đối, tức công ty con này có thể là công ty mẹ của một công ty khác (tính tương đối này càng nổi bật hơn trong trường hợp các công ty trong một nhóm có nắm giữ vốn cổ phần qua lại của nhau, thí dụ như theo mô hình của các tập đoàn của Nhật);

Thứ năm, trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con nói chung là trách nhiệm hữu hạn;

Thứ sáu, về mặt lý thuyết, mô hình quan hệ này sẽ tạo cho cơ cấu tổ chức của các công ty trong nhóm có chiều sâu không hạn chế; tức công ty mẹ, con công ty con, công ty cháu...


Việc chuyển sang mô hình mẹ - con là hệ quả tất yếu, bởi thực tế đang đặt ra vấn đề chuyển đổi cổ phần hóa các liên doanh, quá trình góp vốn với các doanh nghiệp khác. Do quá trình tự do hóa kinh doanh, một công ty góp vốn ra bên ngoài tất yếu dẫn đến một doanh nghiệp phải nắm cổ phần của đơn vị khác. Chuyển sang mô hình mẹ-con, doanh nghiệp sẽ có những chủ động hơn trong hoạt động. Chẳng hạn, cơ chế cấp phát, giao nhận sẽ chuyển sang đầu tư trên cơ sở hợp đồng kinh tế; chuyển hoạt động chi phối từ mệnh lệnh hành chính sang sở hữu vốn, công nghệ, thị trường...

Thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài

Việt Tín cung cấp dịch vụ thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài cho khách hàng là các cá nhân và doanh nghiệp như sau:


1. Tư vấn pháp luật đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm:


- Tư vấn điều kiện thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài


- Tư vấn hồ sơ thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Tư vấn về vốn đầu tư, vốn pháp định của các bên tham gia trong công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Tư vấn Cơ cấu và tổ chức thành viên công ty có vốn đầu tư nước ngoài


- Tư vấn cách đặt tên công ty có vốn đầu tư nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam


- Tư vấn về đăng ký ngành nghề Đăng ký kinh doanh (lựa chọn, sắp xếp ngành nghề và dự tính ngành nghề kinh doanh sắp tới), tư vấn những điều kiện trước, những điều kiện sau đối với nghành nghề đăng ký kinh doanh.


- Tư vấn về kiến thức thuế của doanh nghiệp khi đi vào hoạt động


- Tư vấn xin ưu đãi đầu tư đối với công ty có vốn đầu tư nước ngoài


- Tư vấn cách phân chia lợi nhuận của các thành viên công ty khi quyết toán sau năm tài chính






2. Hồ sơ thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm:


- Biên bản họp các cổ đông, thành viên trước thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Giấy đề nghị đăng ký thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Soạn thảo Điều lệ Công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Soạn hợp đồng hợp tác kinh doanh của công ty có vốn đầu tư nước ngoài


- Lập giải trình về điều kiện tài chính và cơ sở máy móc kỹ thuật để làm đề án xin thành lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Soạn thảo danh sách sáng lập viên công ty có vốn đầu tư nước ngoài.



- Biên bản họp công ty về việc góp vốn của sáng lập viên công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Giấy chứng nhận góp vốn cho từng cổ đông công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Quyết định bổ nhiệm Giám đốc công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Quyết định bổ nhiệm Kế toán trưởng công ty có vốn đầu tư nước ngoài.


- Sổ đăng ký thành viên sáng lập công ty có vốn đầu tư nước ngoài.

Thế nào là doanh nghiệp nước ngoài

Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập công ty để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.

Pháp luật hiện hành quy định tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Bên cạnh các quy định của pháp luật áp dụng chung, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên và để thuận lợi cho công tác quản lý đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp và về đầu tư áp dụng riêng đối với đầu tư nước ngoài về lĩnh vực đầu tư có điều kiện, về quy định trong việc thành lập công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, về thủ tục đầu tư, về đầu mục hồ sơ dự án đầu tư và về địa điểm thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp.