Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Quản lý thuế DN Đầu tư nước ngoài trên địa bàn Vĩnh Phúc

Xuất phát từ tình hình thực tế của kinh tế thế giới và trong nước năm 2012, Điển hình như kinh tế Mỹ đang đối diện nguy cơ giảm phát, nền kinh tế châu Âu sẽ có nhiều kịch bản tồi tệ, nền kinh tế của các nước trong khu vực Châu Á cũng không có gì sáng sủa ... Hầu như các chính sách kích thích kinh tế của các nước chưa phát huy được tác dụng. Nền kinh tế Việt Nam không nằm ngoài quỹ đạo đó, mà đã chịu tác động lớn, trực tiếp của kinh tế trong khu vực và thế giới. Mặc dù Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách điều hành vĩ mô nhằm kiềm chế lạm phát, tháo gỡ khó khăn cho các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp đảm bảo nền kinh tế ổn định và phát triển. Nhưng nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (FDI) nổi cộm ở các mặt đó là:




Thị trường nguyên liệu, thị trường đầu ra bị thu hẹp; mức tiêu dùng nội địa và quốc tế giảm làm giảm khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng tồn kho lớn, khó giảm dư nợ vay của ngân hàng; Khó tiếp cận các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước do lãi suất ngân hàng quá cao, hầu hết các khoản dư nợ tín dụng đều đến hạn hoặc chuyển qua nợ xấu, nợ khó đòi; Các doanh nghiệp đang cố gắng duy trì sản xuất kinh doanh ở mức độ cầm chừng bằng cách giảm bớt lao động, giảm thời gian tăng ca, công nhân phải nghỉ luân phiên, doanh nghiệp phải lập kế hoạch tái cấu trúc hệ thống tổ chức bộ máy.


trao thưởng cho Công ty cơ khí Vĩnh phúc có thành tích chấp hành tốt chính sách thuế năm 2011)


Trong 9 tháng qua tình hình doanh nghiệp vẫn khó khăn, hàng tồn kho và chi phí tài chính tăng cao. Khó khăn tập trung chủ yếu ở những ngành như xây dựng; bất động sản; công nghiệp chế biến, chế tạo (ô tô, xe máy, sắt, thép, cơ khí, thuỷ sản, dệt may...); chăn nuôi, sản xuất lâm nghiệp; dịch vụ, ăn uống; khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước; DNNVV và một số doanh nghiệp lớn.

Đối với ngành thuế Vĩnh Phúc nguồn thu lớn chủ yếu là thu từ doanh nghiệp ĐTNN. Đặc biệt là sản phẩm Ôtô, xe máy là nguồn thu chủ đạo của Vĩnh Phúc, tính đến 20/9/2012 các DN này chỉ tiêu thụ được 16.512 xe ôtô các loại, bằng 42,1 % so với dự toán giao (dự toán giao là 39.180 xe ôtô các loại) và bằng 69,0 % so với cùng kỳ năm trước (9 tháng đầu năm 2011 tiêu thụ được 23.871 xe ôtô các loại), từ đó dẫn đến tình hình thu ngân sách tính đến tháng 9 trên địa bàn tỉnh đạt thấp. Tổng thu 8 tháng chỉ đạt 4.907,2 tỷ đồng bằng 96,9% so với cùng kỳ 2011, bằng 43,4% kế hoạch năm. Đây là năm đầu tiên số thu giảm so cùng kỳ trong các năm gần đây. Trong đó thu từ lĩnh vực ĐTNN đạt 4.757,6 tỷ đồng, bằng 82,8% so với cùng kỳ năm 2011, bằng 43% kế hoạch Bộ Tài chính giao. Số thu thuế giá trị gia tăng, TNDN, TTĐB đều đạt thấp. So với cùng kỳ năm 2011 đều giảm, và thấp hơn so với các năm 2009, 2010.




Trong bối cảnh đó, Chính phủ, Bộ Tài chính đã nhận định và đánh giá sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngày 6/5, Bộ Tài chính đã công bố 5 nhóm giải pháp tài chính gỡ khó doanh nghiệp, thị trường. Cụ thể: Nhóm giải pháp điều hành vĩ mô, Nhóm giải pháp về chi tiêu công, Nhóm giải pháp về thuế và phí, Nhóm giải pháp điều hành giá và trợ cấp, Nhóm cải cách thủ tục hành chính thuế. Trong đó đối với Nhóm giải pháp về thuế và phí đã có những chính sách cụ thể và tích cực tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp: nhiều đối tượng sẽ được gia hạn thời gian nộp thuế GTGT; giảm 50% tiền thuê đất phải nộp trong năm 2012; gia hạn thuế TNDN; miễn thuế môn bài năm 2012 đối với các hộ đánh bắt hải sản và hộ sản xuất muối; gia hạn thời gian nộp tiền sử dụng đất, giảm 30% thuế TNDN phải nộp trong năm 2012 theo Nghị quyết số 13/2012/QH13 ngày 10/5/2012 của Chính phủ; Thông tư 83/2012/TT-BTC hướng dẫn Nghị Quyết 13/2012/NQ-CP của Bộ Tài chính; Nghị quyết số 29/2012/QH13 của Chính phủ; Nghị định số 60/2012/NĐ-CP việc thi hành Nghị quyết 29/2012/QH13; Thông tư số 140/2012/TT-BTC hướng dẫn thi hành NĐ 60/2012/NĐ-CP;


Trong khi nền kinh tế khó khăn, Chính phủ có nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đồng thời lại phải tăng cường đôn đốc thu nộp, thu nợ thuế vào NSNN tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và khai thác triệt để mọi nguồn thu để hoàn thành kế hoạch thu NSNN. Đây thực sự là những mâu thuẫn, khó khăn lại gặp khó khăn cho công tác thuế nói chung và của Phòng Kiểm tra thuế nói riêng.


Xuất phát từ tình hình trên, ngay từ đầu năm thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Cục, Phòng Kiểm tra thuế 1 đã tập trung triển khai nhiều biện pháp để tăng cường công tác thu, chống thất thu ngân sách. Trong đó, tập trung vào công tác rà soát bám sát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế, chống nợ đọng thuế.


Bên cạnh các biện pháp đã được chú trọng và triển khai ngày từ đầu năm như xây dựng và giao dự toán thu chi tiết đến từng DN và đến từng cán bộ; Hàng tháng có họp đánh giá kết quả thu, phân tích nguyên nhân tăng, giảm và số nợ thuế của từng DN để có biện pháp xử lý kịp thời. Theo dõi sát các DN trọng điểm bằng chế độ báo cáo thường xuyên định kỳ ... Trong tháng 9, Phòng đã đưa nhiệm vụ trọng tâm lên hàng đầu song song với nhiệm vụ đôn đốc thu nộp, giảm nợ thuế là công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế. Chỉ đạo của Lãnh đạo Phòng tới các đoàn kiểm tra là phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao về công tác kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế đã được giao. Cụ thể:
Phòng Kiểm tra thuế 1 phấn đấu kiểm tra được 90% hồ sơ sau hoàn thuế còn tồn, những hồ sơ này chủ yếu thuộc các DN ĐTNN, do đó tập thể phòng quyết tâm xắp sếp tạo điều kiện hỗ trợ để các bộ phận đều hoàn thành thành tốt nhất nhiệm vụ chung.



Việc triển khai kiểm tra hồ sơ khai thuế và kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế đối với DN ĐTNN thực sự gặp nhiều khó khăn so với doanh nghiệp trong nước. Các nguyên nhân chủ yếu như: hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ĐTNN tương đối phức tạp, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đa dạng. Hoạt động gia công, xuất khẩu nhiều; hoạt động về sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử; chế biến thức ăn, chăn nuôi gia súc ... thường kèm theo đó là các nghiệp vụ về xuất, nhập khẩu nguyên, vật liệu hàng hoá; về thủ tục Hải quan, thủ tục thanh toán. Các nghiệp vụ về quản lý doanh nghiệp, chế độ kê khai thuế, báo cáo thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế; Chế độ ưu đãi của Chính phủ đối với các DN ĐTNN; Chính sách thu hút vốn của tỉnh cũng như Chính phủ đối với nguồn vốn FDI.... Hệ thống chính sách pháp luật của các cơ quan chức năng trong các lĩnh vực khác nhau có những quy định đôi khi chưa đồng bộ, thống nhất, hoặc chưa rõ ràng, khó thực hiện khiến cho một số doanh nghiệp ĐTNN chưa tìm hiểu kỹ để chấp hành chính sách thuế ở Việt Nam đúng quy định. Khi tiến hành thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp ĐTNN do bất đồng về ngôn ngữ, mặt khác nhân sự người nước ngoài ở các doanh nghiệp không thường xuyên ở Việt Nam nên từ việc giải thích cho doanh nghiệp hiểu đến việc thống nhất các nội dung kết quả cuộc thanh tra, kiểm tra để ký biên bản thường bị kéo dài về thời gian. Số lượng doanh nghiệp kiểm tra đạt thấp.


Công tác đôn đốc, hướng dẫn và kiểm tra hồ sơ khai thuế đối với lĩnh vực ĐTNN còn một vấn đề cần được quan tâm đó là thuế nhà thầu. Số thu thuế nhà thầu thường xuyên phát sinh là tiền bản quyền từ 2 Công ty TOYOTA và công ty HONDA, mỗi năm số thuế nhà thầu phát sinh khoảng 300 tỷ đồng. Tuy nhiên, bên cạnh 2 công ty lớn có phát sinh thường xuyên này là các Công ty có dự án đầu tư xây dựng nhà xưởng, lắp đặt dây chuyền, máy móc thiết bị. Công tác kiểm tra đối với các Công ty này gặp khó khăn vì nhiều công ty không nắm rõ quy định về kê khai thuế nhà thầu, quá trình đầu tư khi ký kết hợp đồng không rõ ràng. Ví dụ như: chi phí thuê chuyên gia hướng dẫn, lắp đặt, đào tạo vận hành, dịch vụ bảo hành... thường không ghi rõ ràng trong hợp đồng, nằm ẩn sau hợp đồng hoặc phát sinh bên ngoài khi đầu tư dây chuyền sản xuất ...nên nếu các doanh nghiệp không tự kê khai thì cơ quan thuế khó quản lý hết được nếu không tiến hành kiểm tra tại doanh nghiệp. Mặ khác, khi cơ quan thuế kiểm tra, phát hiện và tính truy thu, phạt theo quy định đơn vị thường cảm thấy khó chấp nhận hoặc không thoả mãn. Nhằm khai thác triệt để mọi nguồn thu, phòng Kiểm tra thuế 1 đã đưa nội dung kiểm tra thuế nhà thầu vào chương trình thực hiện đôn đốc, hướng dẫn và kiểm tra sát sao trong năm 2012.



Vốn ĐTNN vào Việt Nam đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, điều này thể hiện rất rõ nét trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Hơn 15 năm qua, nền kinh tế Vĩnh Phúc đã phát triển ở mức cao và có nhiều khởi sắc. Trình độ dân trí, trình độ của DN VN được nâng lên khá cao, tiếp cận với các công nghệ tiên tiến của thế giới. Do vậy để thực hiện tốt công tác quản lý thuế đối với lĩnh vực DN ĐTNN, Phòng Kiểm tra thuế cần thiết phải có sựphải có sự phối hợp chặt chẽ với các phòng chức năng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, cũng như các mặt công tác khác như: Công tác thực hiện các thủ tục hành chính về thuế; Công tác đôn đốc thu nộp thuế; Công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế theo qui định; Công tác quản lý đối tượng người nộp thuế; Công tác xác minh hoá đơn; Công tác kiểm tra trước và sau hoàn thuế; ....


Đối với các cơ quan hữu quan, các Sở, ngành, Cục thuế và Cục Hải quan tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính liên quan đến sản xuất kinh doanh, đầu tư, nhất là thủ tục về thuế và hải quan; rút ngắn thời gian thông quan, tăng cường công tác khai thuế điện tử qua mạng, đẩy mạnh triển khai nộp thuế qua hệ thống ngân hàng, đẩy mạnh tự động hóa quy trình tiếp nhận giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính thuế và hải quan. Phối kết hợp chặt chẽ với ngành Ngân hàng trong việc thu thuế vào NSNN cũng như trong việc thực hiện đôn đốc thu nộp thuế, thu nợ thuế vào NSNN, nhằm đảm bảo môi trường thuận lợi cho DN ĐTNN nhưng cũng đồng thời chấn chỉnh DN ĐTNN thực hiện nghiêm minh quy định của Pháp luật Việt Nam về chấp hành chính sách thuế .