Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

Thành lập công đoàn cơ sở có cần không?

Lâu nay, tâm lý chung của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp dân doanh là ngán ngại việc thành lập công đoàn cơ sở. Theo họ, hoạt động công đoàn cơ sở vừa tốn kém thời gian, nhân lực, vừa rắc rối, lại còn phải đóng đoàn phí bằng 1% tổng quỹ tiền lương, tiền công của doanh nghiệp. Trong khi đó, người lao động cũng không mặn mà với việc tham gia công đoàn cơ sở. Họ cho rằng, điều này chỉ tốn thời gian, phải đóng đoàn phí, trong khi quyền lợi thì hầu như không có.

Theo thống kê gần đây của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tính đến tháng 8.2009, có 60% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 80% doanh nghiệp dân doanh chưa có tổ chức công đoàn cơ sở. Trong khi đó, công đoàn cơ sở đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo mối quan hệ hài hòa giữa người lao động và người sử dụng lao động. Thực tế cho thấy, vì không có công đoàn cơ sở hoặc có nhưng không phát huy được vai trò, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với những rắc rối pháp lý không đáng có và thiệt hại cũng không nhỏ.

Những tranh chấp

Những tranh chấp giữa người lao động và chủ doanh nghiệp có thể thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:

Tranh chấp tập thể: Tính từ năm 1995 đến nay, có gần 3.000 cuộc đình công, lãn công xảy ra, nhưng hầu hết đều trái luật. Nguyên nhân chính là doanh nghiệp không có công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn cơ sở không tham gia điều tiết để tổ chức đình công đúng luật (một cuộc đình công được xem là hợp pháp khi diễn ra đúng các trình tự do công đoàn tổ chức).
Rõ ràng, hậu quả của những cuộc đình công quy mô lớn và kéo dài là khá lớn và người gánh chịu thiệt hại đầu tiên và nặng nề nhất không ai khác là chủ doanh nghiệp. Họ vẫn phải trả lương cho những lao động không đình công (nhân viên phải tạm nghỉ việc do đình công) trong khi các chi phí cố định vẫn phát sinh. Nghiêm trọng hơn là việc sản xuất kinh doanh bị đình trệ, mất uy tín với khách hàng và bỏ lỡ cơ hội kinh doanh do phải tập trung giải quyết tranh chấp.
Một số vấn đề khác cũng nảy sinh. Chẳng hạn, doanh nghiệp sẽ bị các cơ quan chức năng “soi” kỹ các hoạt động của doanh nghiệp; mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động sau đình công trở nên căng thẳng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Tranh chấp cá nhân: Gần đây, những tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động (sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động) gia tăng, một phần do tình hình kinh tế khó khăn, phần khác do người lao động đã ý thức hơn về quyền lợi của họ.
Một nguyên nhân cũng quan trọng không kém là một phần các vụ tranh chấp xuất phát từ việc hiểu biết pháp luật lao động của người sử dụng lao động còn hạn chế, đặc biệt là nhận thức về vai trò của công đoàn cơ sở trong việc tham gia giải quyết tranh chấp. Hậu quả là doanh nghiệp vấp phải sự phản ứng gay gắt từ phía người lao động. Để bảo vệ quyền lợi của mình, người lao động nhờ đến luật sư và gửi đơn khiếu nại đến cơ quan quản lý lao động địa phương, thậm chí cả cơ quan công an.